Cha mẹ luôn muốn thứ tốt nhất cho con, nhưng chẳng biết bấu víu vào tiêu chí nào, đành chỉ biết chạy theo ngọn hải đăng trong đêm tối mang tên “trường điểm”…

Nhà văn Trang Hạ

– Phù…! Cuối cùng thì ta cũng đã trở thành vĩ nhân, chỉ sau một đêm thức trắng!

* … Tân hôn?

– Không, còn “linh thiêng” hơn thế: Xếp hàng mua đơn dự tuyển cho con vào trường Thực Nghiệm! Và chiến thắng đã đến vào giờ quyết định: Cánh cổng trường sụp đổ (do chen lấn), còn phụ huynh thì thừa thắng xông lên?

* Ồ, chị cũng theo dõi vụ này sao? Ba nhóc nhà chị có đứa nào năm nay vào lớp 1 đâu nhỉ?

– Nhưng ít nhiều thì trong thâm tâm, tôi cũng đã từng bị cả xã hội thôi miên rằng: Giờ đây chỉ có danh tiếng những trường tốt mới cứu vớt được con mình khỏi nguy cơ tị nạn giáo dục…

* Vậy hóa ra chị cũng từng có chân trong đội quân “ôm lòng đêm” đứng xếp hàng trước cổng trường Thực Nghiệm sao?

– Của đáng tội, cái đức làm mẹ của tôi nó không cao cả đến thế, nên rốt cuộc, các con tôi đều học “trường làng”, đúng tuyến, ngay đầu ngõ! Vì ba lý do:

1 – Tranh đua không phải là dòng máu chảy trong người tôi. Nếu phải đua với ai, tôi xin từ bỏ ngay, vì không cần con mình dứt khoát phải cao hơn con hàng xóm, ăn nhiều hơn, giỏi hơn con bạn bè mình, ra đời thành đạt hơn mình và càng không muốn con mình phải nhìn thấy mình trong hình ảnh đang ganh đua giẫm đạp với đám đông.

2 – Vì dạy con và cho con đi học theo tôi là cả một hành trình dài, ít nhất 20 năm, nên còn quan trọng hơn chuyện chọn trường nào cho con, là câu hỏi: Mình có sẵn sàng “đi học cùng con” không? Có thực sự quan tâm đến tâm trạng của con trong môi trường giáo dục đó hay không?…

* Điều đáng nói là ngày “xả đơn” của trường Thực Nghiệm năm nay tình cờ trùng vào Ngày của Mẹ nhé, đám đông vì thế thành biểu tượng!

– Đúng là có con rồi mới hiểu lòng cha mẹ! Cha mẹ luôn muốn thứ tốt nhất cho con, nhưng chẳng biết bấu víu vào tiêu chí nào, đành chỉ biết chạy theo ngọn hải đăng trong đêm tối mang tên gọi là “trường điểm”. Bởi lẽ hơn ai hết, chính những người đạp rào, đội sương, thức đêm chờ xếp sổ mua đơn cho con học ấy, là những người ít muốn đánh bạc với tương lai của con mình nhất!

* Hãy tưởng tượng chị là… Thượng đế, vén mây nhìn xuống, thấy một hàng dài phụ huynh rồng rắn, Thượng đế sẽ cười hay… khóc?

– Thượng đế sẽ khóc vì xúc động, nhưng cũng sẽ cười vì mừng thầm: Màn tập dượt ấy rồi đây sẽ còn giúp các bậc phụ huynh có thêm kinh nghiệm chiến đấu khi con vào THCS, khi con bệnh, khi con thi đại học, khi con đi xin việc… Và dẫu sao thì những bậc phụ huynh này cũng làm Thượng đế cảm thấy lạc quan hơn là khi nghe Thiên Tào Bắc Đẩu rỉ tai rằng, bây giờ người ta toàn dùng tiền để xếp hàng hộ thôi. Những người xếp hàng bằng tiền, mà ta không thấy mặt, chẳng nhẽ không đáng lo ngại sao?

* Chị nghĩ thỏi nam châm nào ở cổng trường Thực Nghiệm đã hút người ta đến thế?

– Đương nhiên ai cũng biết là trường Thực Nghiệm đã được “thơm lây” nhờ người học trò cũ danh tiếng Ngô Bảo Châu. Nhưng tôi nghĩ, trong số những lá đơn giơ cao sáng qua, chắc chắn không phải ai cũng đủ tự tin để mơ con mình trở thành Ngô Bảo Châu đâu! Mà đơn giản, họ chỉ cần mong con mình không phải đi… “liếm ghế” (như ở một trường THCS tại Hà Tĩnh) mà thôi!

* Thế thì có gì là không chính đáng?

– Vấn đề là trường tốt chắc gì đã là lựa chọn tốt nhất cho con mình? Trường tốt là nơi mà phụ huynh, giáo viên và học sinh mơ mộng nhất trên đời, nhưng giấc mơ giáo dục ấy có mang lại tương lai tốt đẹp cho những đứa trẻ không? Ta không biết, vì ta không thể vơ đũa cả nắm, nhưng thử nghĩ xem: Ở trường điểm, nơi người ta bắt trâu chạy thi với ngựa, thì trâu có hạnh phúc không? Trâu có tiến bộ được không? Con bạn là trâu hay ngựa? Hay nhất thiết con bạn phải là ngựa nòi, ngựa đua, ngựa giống, phải chạy nhanh hơn con nhà khác?

* Một xã hội coi trọng việc học là thế mà không đáng mừng sao?

– Trái lại, tôi cho rằng đó là bi kịch của một nền giáo dục không mang lại cảm giác an tâm cho các bậc phụ huynh bởi một số không ít những người có trách nhiệm không hề có cảm xúc mừng hay lo trước hiện tượng chạy trường, chọn trường, trái tuyến, thi đầu vào lớp 1…

* Chị muốn nói gì với những bậc phụ huynh vừa mua được đơn và cả không mua được đơn hôm qua?

– Tôi chia sẻ với những bậc phụ huynh mãn nguyện trong hành trình chạy đua vào trường tốt, và tôi cũng muốn nói rằng: Không sao, dù đến đích hay không, các bác vẫn là những người cha người cha, người mẹ thương con nhất. Và vì có bố mẹ ở bên, nên con các bác sẽ rất ổn, cho dù học trường nào!

* Hình ảnh những cánh cổng trường sụp đổ (vì chen lấn) gợi lên trong chị cảm tưởng gì?

– Tôi chỉ muốn đưa ra 4 gạch đầu dòng:

1 – Những trường tốt nhất thế giới là những trường có cánh cổng trường thân thiện, mở ra chào đón người học và mọi vấn đề của người học sẽ được giải quyết ở trong văn phòng, giáo vụ, phòng tiếp đón, phòng quản lý… chứ không phải ở cánh cổng sắt.

2 – Những trường tốt nhất Việt Nam nên gia cố cổng sắt cho vững chắc hơn (làm thêm rào kẽm gai càng tốt), để đảm bảo không bị thiệt hại vật chất mỗi mùa tuyển sinh.

3 – Mở lớp luyện thi vượt rào cấp tốc, vượt chướng ngại vật cho phụ huynh trước mùa mua đơn tuyển sinh vào các cấp.

4 – Còn nếu như không muốn những cánh cổng sắt bị xô đổ, Bộ GD&ĐT cần có giải pháp xử lý nâng cao chất lượng giáo dục phổ thông, cải cách lối giáo dục theo thành tích, bỏ khái niệm “trái tuyến, đúng tuyến”, hoặc đơn giản nhất là “cho lên mạng download đơn xin học, đăng ký vào trường online để xét tuyển”. Nhưng vì nỗi, mọi giải pháp đều là xa vời, nên may ra, chỉ có mỗi việc chăng kẽm gai là có thể làm nhanh nhất!

* Vậy, túm lại, “xin lỗi, em chỉ là con… tốt, hay con… nợ” của một nền giáo dục lắm hoang mang, nhiều định hướng?

– “Xin lỗi, em chỉ là… phụ huynh”! Các bác nói gì thì nói, hễ cổng trường đổ là em cứ xông vào!

Theo Đẹp
Đăng bởi: langnghe | 20/04/2012

Chúc Tết làng nghệ 2012

(TT&VH Cuối tuần) – Năm 2011 đi qua với quá nhiều sự kiện rùm beng thiên hạ của làng nghệ Việt, nhưng sự kiện liên quan đến chuyên môn thì đếm trên một bàn tay còn thừa chỗ, còn sự kiện “bên lề” thì nhiều đến nỗi bác Tú Xương giờ có sống lại chắc phải viết bài thơ chúc Tết mới thành một trường ca. Mặc dù vậy, với thời đại kỹ thuật số và thông tin điện tử tiến nhanh như vũ bão gây kèm theo những hội chứng khó chữa cho cái làng truyền thông toàn nông dân trồng cải, chúng ta cũng có thể tràn trề hy vọng ngồi lại và viết xuống những lời chúc đầu năm cho làng nghệ vào Xuân.

* Chúc cho toàn dân ai cũng thành nghệ sĩ, người nào cũng thành ca sĩ.

Năm vừa qua là năm được mùa các cuộc thi tài năng, mặc kệ những lo toan về đất đai hay chứng khoán, mặc kệ những vấn nạn về giao thông hay giáo dục, y tế, toàn dân vẫn phấn khởi hát ca, không chỉ như dân nghiệp dư trong những tụ điểm karaoke gia đình luôn làm đinh tai nhức óc láng giềng hàng phố mà còn tiến thẳng lên chuyên nghiệp qua những cuộc thi, bỏ qua giai đoạn trường lớp thanh nhạc nhàm chán. Không chỉ ca hát, xin chúc dân ta ngày càng phát triển tài năng, sẽ thành “ai đồ” trong mọi lĩnh vực biểu diễn. Năm nay nước Việt nhất định “Got Talent”!

* Chúc cho các ca sĩ, kể cả sao sáng lẫn sao xẹt, đừng quá quan trọng giọng ca mà nâng tối đa khả năng vũ đạo.

Múa may vốn là thứ không nằm trong truyền thống của dân ta, vì vậy chúc các anh chị và các em chịu khó luyện thể hình và thể lực, không chỉ để chịu đựng suốt hai tiếng vẫy vùng cùng vũ đoàn trên sân khấu (nếu làm liveshow cá nhân) mà còn có hơi để không đánh rơi micro và nói vào đó mấy câu cảm ơn cảm huệ sau khi MD vừa tắt nhạc. Việc luyện thể hình còn có thể kết hợp với vài chỉnh sửa nhẹ của y khoa thẩm mỹ để giúp các “vũ ca sĩ” khoe thân hình sexy thiếu vải với khán giả cùng đám phóng viên ảnh mạng đói tin. Chúc cho các vũ đoàn dồi dào sức khỏe, một khi lời ca ngày càng không ăn nhập gì với nội dung của vũ điệu thì việc thiếu các bạn trên sân khấu sẽ làm cho showbiz Việt chẳng có gì mà show!.

* Chúc cho các live show càng ngày càng khủng và lắm trò vui cạnh tranh với thiên hạ.

Căn bệnh ảo mà người ta cứ đi gọi là “háo danh” hay “sĩ” thì quả thật hơi quá nhưng thiếu mất sự hoành tráng thì quả thật không xứng tầm ngôi sao nếu làm live show, mặc kệ chuyện lỗ lãi, vài tỷ bạc có nhằm nhò gì, cái tụi nước ngoài mang tiếng là chuyên nghiệp mà khi làm “show” cứ ngồi tính toán về “biz” hơn thiệt để ca sĩ mà cả năm trời mới xuất hiện được có một lần thì ai mà biết đến? Thiếu tiền thì xin tài trợ, nhà “có điều kiện” thì xin bố mẹ, đức lang quân hay thỏ thẻ với “honey”, nhà tiểu gia thì cầu viện các đại gia, cùng lắm chẳng ai cho thì cày ì-ven trả nợ… Ô hay, mà sao các live show khủng toàn thấy các sao nhà mình hạ cánh xuống từ trời thế nhỉ? Chúc năm sau các sao nhà ta dù bay bằng gì thì cũng phải toàn cất cánh! Chẳng gì thì cũng một công lắp cần cẩu, dây cáp… tiền bán vé đằng nào cũng xuống tới lỗ rồi thì tội gì chẳng bay lên?

* Chúc các nghệ sĩ ngày càng giàu danh hiệu để tiện bề trang trí nhà cửa, chụp ảnh lên báo và ra giá với bầu sô.

Giải thưởng gì khỏi lo, thời nay mỗi tháng, mỗi năm lại thấy một giải thưởng ra đời, không của báo chí thì cũng truyền hình, không từ báo mạng thì cũng của phát thanh. Đừng lo chuyện chuyên môn, cứ lo fan club cho chu đáo và tử tế với cánh nhà báo là sẽ có giải. Mà chẳng có giải thì cũng đừng nên đến dự trao giải làm gì! Ai rỗi hơi mà ngồi xem chúng nó lên nhận những thứ giải được đoán trước?

* Cuối cùng, xin chúc cho sắc đẹp Việt ngày càng thăng hoa!

Chuyên mục mới trên TT&VH Cuối tuần “phiên bản 2012” với sự cộng tác của “chuyên gia” GPRS. “Cài đặt tự động GPRS để có thể kết nối mọi lúc mọi nơi với Showbiz tuần một chuyện !!!”.

Chúng ta nào thiếu người đẹp nhưng chỉ vì chưa may mắn thôi. Cứ luyện chiêu cho kỹ trong những cuộc thi hoa hậu trong nước mỗi tháng đều đặn là sẽ có ngày đăng quang ngoài biên giới. Chỉ cần không lấy áo dài và mấn làm trang phục dân tộc, không lấy múa chim công để thi tài năng thì khả năng vào Top 5 thế giới là rất cao.

Ai nói năm 2012 sẽ là thảm họa? Điều đó chắc chắn sai bét, trước hết là đối với showbiz Việt, 2012 chắc chắn sẽ khởi sắc với nhiều trò vui. Mà cứ vui là được rồi, các bác chuyên môn cứ hay ngồi hết phê phán lại ta thán cho nền âm nhạc Việt, cứ mở mồm ra là nói “thảm họa” làm từ này mất thiêng. Cụ Tú Xương đã đi xa lâu rồi, Vua Lê Thánh Tông cũng chẳng còn để cấm phường “xướng ca” đi thi thố. Hát xướng là trò vui, ai vui, vui ai cũng đều tốt cả…

Ôi showbiz!.

GPRS

Đăng bởi: langnghe | 29/02/2012

Vui như Tết và buồn cũng như… Tết?

Liệu con số bình quân đó có phản ánh đúng thực chất, khi ta đánh đồng cộng tất cả tết người giàu người nghèo, rồi chia trung bình, để hàng năm hồ hởi công nhận với nhau là đời sống người dân đã được cải thiện nhiều.

Tết nhà mình và Tết nhà người

Như một “bài ca theo cùng năm tháng”, mỗi độ Tết đến xuân về, chúng ta lại xôn xao, nóng bỏng, thấp thỏm với vấn đề muôn thuở: so Tết nhà mình với Tết nhà người.

Có thể nói tết chính là khoảng thời gian thuận lợi phát huy khả năng (hay bản tính?) so sánh vốn có của con người. Suốt năm bận rộn, bản tính đó phần nào nằm yên.

Nhưng khi tết đến, trong cái không khí tổng kết tràn ngập khắp nơi, hầu như chẳng ai tránh khỏi việc tự mổ xẻ xem mình đang ở đâu trong cái thang bậc cuộc sống. Có lẽ vì thế mà tết trở thành thời điểm phơi bày rõ rệt nhất khoảng cách chất lượng đời sống trong xã hội.

Thời đại thông tin với các phương tiện truyền thông bủa vây cũng đang tích cực “tiếp tay” cho khả năng so sánh.

Ngoái lại một chút thời bao cấp, khi phương tiện truyền thông cao cấp của các gia đình cũng chỉ là chiếc đài hay sang trọng hơn là tivi đen trắng, với số kênh khiêm tốn và hai màu trắng đen, hình ảnh cuộc sống đến với mỗi người không quá náo nhiệt, rực rỡ.

Phải chăng vì thế mà người thời trước ăn Tết cũng bình thản hơn? Vì nếu muốn so sánh, người ta cũng chỉ nhìn được sang nhà hàng xóm, hay rộng hơn thì cũng đến trong làng, trong cơ quan.

Giờ đã khác. Tết đến, chỉ cần bật tivi hay nhấp chuột, chúng ta đã có thể “đọc vanh vách” mọi người ăn tết thế nào và nhanh chóng “xếp hạng” được mình trên cái thang không đỉnh và không đáy của mức sống. Phép so sánh bắt đầu và như không có hồi kết:

–   Trong khi tiền thưởng Tết của người ta lên đến 700 triệu, đủ mua một căn nhà (cho người thu nhập thấp) thì thưởng Tết của mình chưa đủ mua mấy viên ngói che tạm chỗ dột để ăn Tết cho yên.

–  Trong khi người ta lo sắm xế hộp siêu khủng để chơi xuân, mình phải dành dụm bao lâu mới đủ tiền mua vé xe về quê.

–   Trong khi người ta rôm rả bàn xem Tết này ăn gì để ra Tết không tăng cân, thừa mỡ, mình phải chật vật lo đủ vài tấm bánh chưng cho ra cái… hồn Tết.

–   Trong khi người ta hào hứng lên kế hoạch du lịch chơi xuân, mình còn đang cắm đầu làm tăng ca để dành dụm thêm ít tiền tiêu Tết. Mình còn phải tính tích trữ thêm trước ít xăng, để nhỡ ra Tết đến, ngành xăng dầu lại “nổi hứng” tăng giá… mừng xuân.

–  Trong khi người ta bỏ cả nghìn đô thuê “rước” đào Tết về ngắm, mình phải tính chi li từng nghìn tiền Việt trong cái ngân sách eo hẹp.

–          …

Vui như Tết và buồn cũng như…Tết?

Cứ thế, hố sâu khoảng cách giàu – nghèo ngày càng rõ rệt và khiến con người ta day dứt. Vui như Tết mà buồn cũng như Tết là vậy.

Hầu như ai cũng hiểu khả năng, nỗ lực, vận may… và rất nhiều yếu tố khác của mỗi người là khác nhau, nên thành quả họ được hưởng cũng khác nhau.

Nhưng nếu xét sòng phẳng trên con số, liệu có tránh khỏi việc phải đặt câu hỏi: Chẳng lẽ những người có mức thưởng Tết hàng trăm triệu lại hội đủ những yếu tố đó gấp hàng nghìn lần so với những người chỉ được thưởng Tết 100-200.000, hay gấp vài chục nghìn lần so với những người cầm trong tay số tiền Tết tượng trưng vỏn vẹn 30.000đ?

Có người sẽ nói là các ngành khác nhau, so sánh chỉ là khập khiễng. Nhưng cùng trong một ngành, tình hình có khác?

Chẳng hạn chỉ trong nội bộ ngành giáo dục, cũng có thể thấy sự chênh lệch một trời một vực giữa giáo viên thành thị với nông thôn, trường giàu với trường nghèo.

Ở những trường “sang”, tiền thưởng Tết của các thầy cô có thể lên tới hàng chục triệu – một khoản tiền là niềm mơ ước của không chỉ các đồng nghiệp mà còn của không ít ngành khác. Đó là chưa kể những khoản “muốn con hay chữ phải yêu lấy thầy” của các phụ huynh.

Nhưng tại những trường vùng sâu, vùng xa, các thầy cô giáo thậm chí còn không biết đến khái niệm thưởng Tết, chỉ cần học trò đến trường đủ đã là may mắn. Trong trường hợp này, buộc chúng ta phải đặt câu hỏi những thầy cô ở vùng sâu vùng xa quanh năm đã chịu rất nhiều thiệt thòi, vất vả, đến Tết lại “tay trắng” thì liệu có là công bằng?

Câu chuyện thưởng tết không năm nào không nóng

Cần có chỉ số bình quân Tết?

Ai cũng có quyền bình đẳng ăn Tết, nhưng ăn Tết như thế nào lại là một chuyện mà chưa biết đến bao giờ có thể bình đẳng. Và như thế cái vòng quay đến Tết lai so sánh, đến Tết lại nao lòng hẳn sẽ còn tuần hoàn tiếp diễn.

Bởi thế, với những người mang chủ nghĩa hoài nghi với thế giới hiện đại và nặng lòng hoài cổ, hẳn cũng có lý do để quay lại Tết… nghèo chung ngày xưa. Trong ký ức được kể lại của thế hệ từng trải qua những cái Tết bao cấp đơn sơ, thời đó nghèo mà vẫn có cái vui riêng.

Nhưng thực tế vẫn là, “bánh xe lịch sử” không quay ngược trở lại, trong khi lại có nhiều người giữa thời đại này vẫn ăn tết như… thời bao cấp.

Nhìn vào số lượng tiêu thụ hàng hóa cũng như số tiền tiêu Tết ngày càng tăng, không ai có thể phủ nhận đó là dấu hiệu cho thấy đời sống đang khấm khá dần. Chúng ta có thể nghĩ đến việc cho ra đời một loại chỉ số mới để đánh giá mức độ phát triển: Chỉ số bình quân Tết.

Không có lý gì vì thực hiện công bằng, bình đẳng người ta có thể đòi hỏi kéo cái Tết của người giàu xuống cho bằng cái Tết của người nghèo. Vậy còn cách thứ hai: Kéo cái Tết của người nghèo lên để rút ngắn dần khoảng cách giàu nghèo?

Nếu chỉ số thu nhập bình quân đầu người GDP có thể cho thấy tốc độ phát triển kinh tế quốc gia, thì chỉ số bình quân Tết cũng khá quan trọng để đánh giá mức độ cải thiện mức sống. Tuy nhiên, liệu con số bình quân đó có phản ánh đúng thực chất, khi ta đánh đồng cộng tất cả Tết người giàu người nghèo và chia trung bình, để hàng năm hồ hởi công nhận với nhau là đời sống người dân đã được cải thiện?

Con số bình quân ngày càng tăng. Nhưng còn những người mà năm này qua năm khác tiền thưởng Tết không có, hoặc vẫn ở mức động viên tinh thần, trong khi giá cả thị trường tăng chóng mặt, thì thực ra những cái Tết của họ lại ngày càng thụt lùi. Chỉ số bình quân Tết liệu có “công hiệu” với những người như vậy?

Nghịch lý là, trong thời đại internet, con người ngày càng bình đẳng trong tiếp cận thông tin, song điều này lại không đồng bộ với sự bình đẳng trong cải thiện khoảng cách sống. Kết quả là, họ ngày càng nhận ra sự thiếu bình đẳng trong các mặt đời sống khác và phát triển khả năng- bản tính so sánh của mình. Nhiều hụt hẫng, hoang mang, bế tắc cũng từ đó mà sinh ra.

Nói đến bình đẳng, hẳn sẽ không ai hiểu theo cách thô sơ là cần lấy Tết của người giàu chia cho người nghèo như trong một số truyện cổ. Cũng không ai phê phán người giàu vì tiêu pha phóng tay nếu tiền họ làm ra theo cách chân chính. Xét ở khía cạnh khác, nó còn có tác dụng kích thích tiêu dùng và kích thích cả chí làm giàu trong xã hội.

Vì thế, không có lý gì vì thực hiện công bằng, bình đẳng người ta có thể đòi hỏi kéo cái Tết của người giàu xuống cho bằng cái Tết của người nghèo. Vậy còn cách thứ hai: Kéo cái Tết của người nghèo lên để rút ngắn dần khoảng cách giàu nghèo?

Đây có lẽ là cách chúng ta đang nỗ lực thực hiện và sẽ rất tuyệt vời nếu thành công. Tặng quà, hỗ trợ tiền tàu xe, kêu gọi lòng hảo tâm của xã hội đem Tết đến cho người nghèo… là những nỗ lực đã được thực hiện và mang lại hiệu quả nhất định.

Tuy nhiên, liệu phải chăng những biện pháp đó mới chỉ là sự an ủi của xã hội và mang tính giải quyết tình thế? Bởi suy cho cùng, cái Tết nghèo cũng chỉ là biểu hiện cao điểm của cả một đời sống thiếu thốn kéo dài, và khoảng cách Tết giàu – Tết nghèo cũng chỉ là một điển hình tiêu biểu cho khoảng cách giàu nghèo đang ngày càng phân cách sâu sắc trong xã hội.

Nếu nhìn như vậy, thì giải quyết gốc rễ vấn đề Tết giàu – Tết nghèo lại nằm ở chỗ phải giải quyết sự chênh lệch trong đời sống người dân. Đây là một bài toán khó không chỉ với riêng quốc gia nào.

Nhưng nếu thiếu những chính sách tổng thể lâu dài phân phối thu nhập và phát triển cân bằng thì có thể “bài ca” Tết giàu- Tết nghèo vẫn sẽ thành bài ca… bất tận.

Theo Tuần Việt Nam
Đăng bởi: langnghe | 29/02/2012

Chân dung “Sôbít” Việt

Không ngoại trừ! Cũng có thể, vì cả năm làm “Chí Phèo… không chửi đổng” chán rồi nên lần này, Lê Hoàng ta bỗng muốn… “chửi đổng” thử xem? Có hề gì! Vì showbiz Việt “đâu của riêng nhà nào”, showbiz Việt “là tất cả nhưng cũng chẳng là ai”, nên chắc chắn, dân tình sẽ tự nhủ: “Chắc lão trừ mình ra!”…

Đầu tiên, khó mà biết “Sô bít” Việt là trai hay gái. Thậm chí cũng không thể gọi là nửa nọ nửa kia vì mọi thứ trộn lẫn với nhau theo một tỷ lệ rất tùy tiện và kỳ lạ.

Nếu là đàn ông thì anh ấy quá mềm yếu. Rất ít khi đánh nhau bằng tay chân đã đành, lại thường đeo vòng, đeo bông tai, đeo dây chuyền và nhiều thứ khác nữa. Khi chụp hình, rất ít khi anh mặc complê mà thường mở phanh áo, quấn dây thừng hoặc quấn áo may ô lên quá đầu và chả khi nào ngồi ghế. Với một “Sô bít” chân chính, ghế là thứ vớ vẩn. Anh ấy cần bò ra sàn, phơi thân trên tảng đá, hoặc tựa lưng vào gốc cây mục thì mới khác đời.

Nếu là con gái thì chị ấy quá ghét kín đáo. “Sô hàng” là chuyện cũ rồi, bây giờ không phải hàng cũng lộ thế mới cao siêu.

Xe “Sô bít” đi bao giờ cũng là xe hơi. Đương nhiên không quan trọng là xe của mình, xe đi nhờ hay đi mượn.

Trên đường phố xe chở người, còn trên báo chỉ người chở xe.

Chỉ cần xuất hiện với xe là nhiều phóng viên được bữa chén.

Món “Sô bít” ăn luôn luôn bí mật. Đơn giản vì chỉ những đứa phàm tục, chưa ra khỏi rau cháo mới quan tâm đến ăn, chứ với người nghệ sĩ chân chính, chỉ mỗi việc gạt đi các bữa mời ăn cũng đã mệt.

Nếu có dịp trình bày, “Sô bít” sẽ nói thích bún bò, thích khoai lang, thích me chua cho dễ thương và cho thanh lịch. Đừng hy vọng ai nói mình thích lẩu hoặc thích thịt heo chấm mắm nêm vì những thứ ấy không sang.

Nhà “Sô bít” là điều tối mật, nhưng nếu đã khoe ra, chắc chắn có phòng khách, có đàn pianô và gấu bông. Đứa nào mà thiếu bông là đứa đấy còn chưa phải nghệ sĩ. Đừng bao giờ hỏi nhà thu hay mua nếu không muốn nghe nói dối.

Một ngày của “Sô bít” có đẳng cấp luôn bắt đầu từ ít nhất 11 giờ sáng. Những đứa dậy sớm hơn chưa phải nghệ sĩ, mà chắc chắn mới mon men. Nếu là con gái, nàng sẽ sai người làm bưng vô một tô gì đó, vừa ăn trên giường vừa mở laptop xem hôm qua xã hội có gì, đứa nào vừa bỏ chồng, đứa nào mới bị đánh ghen. Vừa xem, vừa vớ điện thoại di động gọi cho nhỏ bạn, bình phẩm về những thứ vừa biết được. Lưu ý, lúc đó đầu vẫn chưa chải và răng vẫn chưa đánh.

Sau đó, nữ nghệ sĩ đi làm móng, đi mát-xa và làm tóc. Công đoạn này dài hay ngắn, sang hay trung bình là tùy đẳng cấp, tùy túi tiền, và tùy hôm ấy có chuyện gì ly kỳ hay không để “tám” với những cô thợ quen.

“Sô bít” nam còn phức tạp hơn “Sô bít” nữ vì luôn phải đấu tranh giữa hai nỗi buồn phiền thiếu tiền và tỏ ra không thiếu tiền. Nếu như các cô gái luôn được các doanh nhân hoặc giả doanh nhân săn đón, mời cơm, mời nước thì các chàng trai lại phải tỏ ra lịch lãm, thành đạt, giàu có trong khi những thứ ấy vẫn còn xa vời. Nên một mặt phải xuất hiện với bộ dạng ung dung, bóng loáng, một mặt phải lởn vởn với những thẻ tín dụng chưa thanh toán. Đằng sau hình ảnh chàng nghệ sĩ cao sang luôn luôn là những lo toan lắm khi vô cùng nhỏ nhặt, muốn sống phải giữ bằng được không để lũ “phan” hâm mộ khám phá ra.

Nếu nửa nam nửa nữ còn rắc rối gấp đôi. Bạn luôn phải duy trì một cảm giác nước đôi, ỡm ờ, úp úp mở mở hay mở mở úp úp, nhằm mục đích cho thiên hạ hiểu sao cũng được và cứ tăng lên.

Điều không thể phủ nhận dù “Sô bít” dễ tổn thương, hay cáu giận bất thường cũng hay xẹp đi nhanh chóng, cứ năm phút lại thấy ai đó định kiện ai đó, thề tới cùng sau năm phút nữa lại thôi.

Nếu “Sô bít” là cá thì xã hội chắc chắn phải là dòng sông. Tuy nhiên, có sự khác nhau, cá bơi tung tăng khắp sông còn “Sô bít” chỉ bơi chỗ nào có giới trẻ. Dù làm ở ngành nghệ thuật nào thì “Sô bít” cũng muốn hướng về tuổi teen, vì hôm nay, chỉ có bọn teen là dễ thương, dễ có tiền và dễ tôn ai đó làm thần tượng. Cho nên nói không ngoa, “Sô bít” Việt Nam thuộc loại trẻ nhất thế giới.

Mùa xuân “Sô bít” làm gì?

Từ già đến trẻ, từ thành danh cho tới còn đang lấp ló, mọi chàng và nàng đều thổ lộ trên báo chí là sẽ dành nhiều quan tâm cho cha mẹ, gia đình. Đây là lúc cần mang truyền thống ra khoe, dù giả dối hay thật lòng. Chả ai dại gì tiết lộ sự thực. Mấy ngày Xuân, “Sô bít” thường tụ tập ở vài địa chỉ quen, đánh bài liên tu bất tận và… chỉ vậy thôi. Sau đó, đi cà phê, tất nhiên trong những nhà hàng mang dấu ấn, để đứa nọ nhìn thấy đứa kia, hoặc chào gật đầu hoặc khinh khỉnh quay đi. Buổi tối là giờ diễn. Nhưng thú thực chả phải đêm nào cũng có diễn, nhưng đừng lo, nàng sẽ đi “ì ven”, đi bar, sau đó sẽ đi ăn khuya. Bận rộn vô cùng.

Nhìn chung, “Sô bít” Việt khá dễ thương, còn quá trẻ, và ngay cả cái tên “Sô bít” cũng mới được đặt cho vài năm nay. Chả hiểu xuất phát hay bắt chước theo Tây hoặc theo Tàu. Sinh ra trong một gia đình khó khăn, cha mẹ thường hay cãi cọ về tiền bạc, còn hàng xóm hay kêu ca về chó mèo gà qué, “Sô bít” từ nhỏ đã mang một số mặc cảm nhưng nhờ may mắn, nhờ nhanh trí và nhờ những nỗ lực liều lĩnh, không mệt mỏi, đôi lúc tưởng như tuyệt vọng mà “Sô bít” đã lớn lên và trưởng thành mặc dù vẫn còn nhiều gian nan hồi hộp.

Theo Đẹp
Đăng bởi: langnghe | 10/11/2011

Người phá lệ Oscar

(TT&VH Cuối tuần) – Đã từ lâu, giải Oscar Phim nước ngoài hay nhất luôn nhận được sự quan tâm chú ý của toàn thế giới. Giải này chỉ bắt đầu xuất hiện từ giải Oscar lần thứ 22 (1949), và vinh dự đã được trao cho bộ phim Italia The Bicycle Thief (Kẻ cắp xe đạp). Trong lịch sử điện ảnh, đây là một trong số những bộ phim hiếm hoi trên thế giới, gần như có được tất cả những lời khen tặng đẹp đẽ mà một bộ phim có thể nhận được. Và nó hoàn toàn xứng đáng với điều đó. Giờ đây mỗi khi xem lại ta vẫn thấy xốn xang, bởi nó vẫn còn nguyên giá trị và tươi mới như ngày đầu ra mắt khán giả cách đây 60 năm!

TẦM ẢNH HƯỞNG LỚN LAO

Kẻ cắp xe đạp là một cuộc tìm kiếm chân giá trị của con người, thể hiện qua tâm hồn của nhân vật chính trong phim. Chuyện phim thật đơn giản, gia đình Ricci – gồm vợ và đứa con trai nhỏ – cả nhà sống nhờ vào chiếc xe đạp. Đến một ngày, chiếc xe đạp bị cướp khi Ricci đang mải làm việc… Trong cơn tuyệt vọng, Ricci nảy ra ý định ăn cắp xe đạp của người khác…

Câu chuyện nghe giống như một bài răn dạy đạo đức trong Kinh thánh hơn là một bộ phim. Vào thời điểm bộ phim được công chiếu, một số người đã xem nó như một tác phẩm “thân Cộng” (lúc đó nhà biên kịch Zavattini là một thành viên của Đảng cộng sản Ý). Để tìm chất liệu viết nên kịch bản này, Zavattini đã phải lăn lộn khắp xó xỉnh ở thủ đô Roma, phản ánh đời sống hiện thực của nước Ý sau chiến tranh vẫn đang còn bị cái nghèo tàn phá.

Dòng phim “Tân hiện thực” đúng như tên gọi của nó mang rất nhiều ý nghĩa. Hầu hết đề cập đến cuộc đời của tầng lớp lao động, sống trong bối cảnh nghèo nàn và mang những thông điệp nhắn nhủ về một xã hội tốt đẹp hơn, nơi mà sự giàu có được phân phát đồng đều tới mọi tầng lớp trong xã hội. Các tác giả đã nhìn nhận những chi tiết chân thực này với con mắt nhân văn. Bộ phim không e dè và rất thẳng thắn khi thể hiện một thế giới tiêu cực bị bóp méo đến thảm hại bởi chính con người.

Không phải là bộ phim đầu tiên, nhưng có thể nói Kẻ cắp xe đạp đã đặt nền tảng lịch sử cho kỷ nguyên phim “Tân hiện thực” Ý. Bộ phim đã ít nhiều ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến cả một thế hệ đạo diễn lẫy lừng của nước Ý như: Visconti, Rossellini, Antonioni, Fellini, Bertolucci… và rất nhiều văn nghệ sĩ khác trên thế giới như kịch tác gia nổi tiếng Arthur Miller (Mỹ).

Ảnh hưởng của Kẻ cắp xe đạp không chỉ trong quá khứ, mà ngay cả hiện tại vẫn còn nhiều đạo diễn, nhiều bộ phim từ Âu sang Á, chịu ảnh hưởng từ bộ phim này: Pee-Wees Big Adventure của Tim Burton (Mỹ), Beijing Bicycle của Vương Tiểu Soái (Trung Quốc), Two Acres of Land của Bimal Roy, Pather Panchali của Satyajit Ray và Polladhavan của Vetrimaran (Ấn Độ)…

Năm 1999, bộ phim Children of Heaven của Iran đã được đề cử phim nước ngoài hay nhất. Trong phim có một cảnh quay cảm động khi người cha nhấc con mình ngồi trên gióng xe, và đưa cậu bé đến một miền đất trù phú… Cảnh này quá quen thuộc với những ai đã từng xem Kẻ cắp xe đạp. Những chủ đề như thế thường sống mãi với thời gian: Một người đàn ông rất yêu gia đình, và tìm mọi cách để bảo bọc cái gia đình ấy, nhưng xã hội lại luôn gây ra những khó khăn cản trở! Ai mà chẳng nhận ra những sự trùng hợp này với Kẻ cắp xe đạp!

Ngay từ lúc ra mắt, Kẻ cắp xe đạp đã đón nhận sự hoan nghênh của công chúng khắp thế giới. Tạp chí điện ảnhSight & Sound của Anh đã bầu chọn đó la bộ phim hay nhất và nó giữ vững vị trí này trong suốt 10 năm liền (mãi đến năm 1962 mới bật ra khỏi bảng xếp hạng).

Trước năm 1949, giải Oscar vẫn chỉ trao cho những bộ phim nói tiếng Anh, chứ chưa có giải dành cho phim nước ngoài. Nhưng sự nổi bật của Kẻ cắp xe đạp đã khiến Viện Hàn lâm điện ảnh Mỹ phải phá lệ và tặng cho nó tấm bằng khen danh dự. Và từ năm sau, trong các hạng mục của giải Oscar đã bổ sung thêm giải dành cho Phim nước ngoài hay nhất. Kẻ cắp xe đạp chính thức được xem là bộ phim nước ngoài đầu tiên đoạt giải Oscar.

Nhưng danh giá nhất là cuộc bầu chọn tại Hội chợ triển lãm quốc tế Bruxelles (Bỉ) tháng 10/1958. Ban giám khảo là những đạo diễn tên tuổi của điện ảnh thế giới đã chọn Kẻ cắp xe đạp là một trong số 12 phim hay nhất của mọi dân tộc, mọi thời đại. Danh dự cao quý đó vẫn còn giá trị đến ngày hôm nay.

Năm 1988, nhân kỷ niệm 40 năm ngày ra đời của Kẻ cắp xe đạp, bưu điện Italia đã đưa bộ phim lên tem. Năm 2008, nhân kỷ niệm 60 năm ngày ra mắt, bản phim đen trắng 35mm Kẻ cắp xe đạp đã được phục chế và in bản mới để chiếu tại cụm rạp Lincoln Plaza (trung tâm Broadway, Mỹ) trong suốt nhiều tuần liền.

BI KỊCH TRONG PHIM VÀ BI KỊCH ĐỜI THƯỜNG

Là một trong những người đi tiên phong của dòng phim “Tân hiện thực”, đạo diễn Vittorio De Sica luôn yêu thích ý tưởng chọn diễn viên là những con người bình thường, chưa hề biết thế nào là diễn xuất trước ống kính, và tất nhiên Kẻ cắp xe đạp cũng không phải là ngoại lệ.

Thế nhưng ban đầu, ý định của ông không thực hiện được vì những ông chủ hãng phim tại Ý không thích kịch bản này. Vittorio De Sica tức tốc sang Hollywood. Tại đây, một hãng phim rất thích kịch bản Kẻ cắp xe đạp, họ sẵn sàng bỏ vốn cho De Sica thực hiện bộ phim với điều kiện ông phải nhận Cary Grant – một ngôi sao nổi tiếng rất ăn khách lúc bấy giờ đóng vai chính.

De Sica không tán thành, và đề nghị được thay bằng ngôi sao lừng danh Henry Fonda. Nhưng do không thể hủy hợp đồng mà Henry Fonda đã ký với một hãng phim khác, đề nghị này cũng lại không thành.

De Sica quyết định về lại Ý và tự mình sản xuất. Ông vận động bạn bè khắp nơi đóng góp tài chính với số tiền ít ỏi là 133.000 USD để thực hiện bộ phim dưới danh nghĩa của hãng P.D.S. (Produzioni De Sica). Trong suốt hàng tháng trời, De Sica tay cầm kịch bản, lang thang khắp các đường phố để chọn diễn viên. Cho đến một ngày, trên đường phố Roma, ông đã tình cờ gặp Lamberto Maggiorani đang cùng vợ con rong chơi trên chiếc xe đạp của họ.

Đó là một người đàn ông 39 tuổi, dáng cao gầy với bộ mặt hiền lành, thao thức và đầy khát vọng. De Sica tự nhủ đây chính là nhân vật thật sự mình cần. Không để lỡ cơ hội, ông chạy theo Maggiorani và đặt thẳng vấn đề với anh: “Tôi không phải là một người sản xuất ra các diễn viên điện ảnh. Tôi không dám hứa hẹn gì với anh, ngoài việc đề nghị cho tôi mượn bộ mặt của anh trong bộ phim mà tôi đang chuẩn bị quay. Anh vui lòng xin phép nhà máy cho nghỉ việc không ăn lương trong vòng hai hoặc ba tháng, sau khi quay xong anh sẽ trở về đó làm việc như cũ”. Sau một thoáng suy nghĩ, Maggiorani ưng thuận, và bộ phim được tiến hành.

Sau khi giúp bộ phim thành công, Maggiorani, như hợp đồng, đã âm thầm trở về nhà máy luyện kim tại ngoại ô thành phố Roma làm việc như trước đây, chờ đến khi hết giờ làm việc để chạy bổ về nhà với hy vọng có ai đó đề nghị ký hợp đồng đóng vai trong bộ phim mới. Nhưng một hôm người ta báo cho Maggiorani biết anh bị sa thải khỏi nhà máy! Và Maggiorani bắt đầu một cuộc sống nghèo túng như chính hoàn cảnh của nhân vật Ricci. Nhưng anh vẫn nuôi hy vọng tiếp tục được đóng phim…

Bẵng đi một thời gian, anh được nhận vào đóng vai phụ trong một bộ phim của đạo diễn Hungary Geza Radwanyl quay ở phim trường Cinecitta, và một vai khác cũng không lấy gì làm quan trọng bên cạnh cô đào người Pháp Simon Simonet. Anh lại hy vọng, nhưng cứ thế, anh chỉ có thể tham dự trong nhiều bộ phim với những vai không để lại một dấu ấn gì hết!

Năm 1983, sau một cơn bạo bệnh kéo dài, Lamberto Maggiorani – “Kẻ cắp xe đạp” lừng danh – đã trút hơi thở cuối cùng tại Roma, thọ 73 tuổi. Chấm dứt bi kịch của người diễn viên vô danh nhưng thành công với vai diễn đầu tiên, trong bộ phim được liệt vào hàng kiệt tác điện ảnh bất hủ của nhân loại.

Bá Vũ

Older Posts »

Danh mục