Đăng bởi: langnghe | 26/07/2007

Adam Smith

“người ta ai cũng vì tư lợi, ham giàu chỉ là một khía cạnh của lòng vị kỷ , và mọi hoạt động của con người đều vì lý do tư lợi cả.”

“nếu mọi cá nhân không ngừng nỗ lực để cải thiện cuộc sinh hoạt của riêng mình… Anh hàng thịt, anh làm rượu, anh làm bánh mang đồ ăn đến cho ta chính là vì lợi riêng của cá nhân họ, chúng ta kêu gọi không phải lòng nhân từ của họ mà kêu gọi đến lòng ích kỷ của họ, chúng ta không bao giờ nói với họ về những nhu cầu của chúng ta mà chỉ nói với họ về mối lợi riêng của họ”.

Để chứng tỏ những điều lợi của sự phân công, Adam Smith đã nêu ra trường hợp chế tạo đinh ghim :”Một công nhân không biết nghề… không quen sử dụng máy móc… giỏi ra một ngày làm được một chiếc đinh ghim, và chắc chắn không thể nào làm được 20 chiếc một ngày. “Phân tách sự chế tạo đinh ghim” làm mười tám công việc khác nhau, chia cho nhiều người làm trong xưởng máy tôi đã thấy một xưởng máy đinh ghim nhỏ chỉ dùng có mười công nhân… mà có thể sản xuất tới bảy mươi tám ngàn chiếc đinh ghim một ngày”. Đó là “kết quả của sự phân công hợp lý và sự phối hợp những động tác khó khăn”.

:”Chỉ có giá trị lao động là không bao giờ thay đổi. Chỉ có lao động là tiêu chuẩn thực và tối hậu để định giá và so sánh sản phẩm ở bất kỳ ở đâu và thời buổi nào. Lao động là giá trị thực của sản phẩm; tiền bạc chỉ để nói lên cái giá trị ấy mà thôi”.

ông phản đối quan niệm của phái doanh thương cho rằng : lương bổng hạ buộc công nhân phải làm việc nhiều và do đó nước Anh được thêm thịnh vượng. Về điểm trên Smith nhận định : “Công nhân muốn hưởng lương, càng cao càng hay, chủ nhân muốn trả lương càng hạ càng tốt. Công nhân sẵn sàng vận động để đòi tăng lương, chủ nhân sẵn sàng vận động để hạ lương công nhân”.

“Trong những cuộc tranh chấp về lương bổng luôn luôn xảy ra, rất dễ đoán bên nào được, bên nào thua. Giới chủ, có ít người nên dễ vận động. Luật pháp nếu không cho phép thì cũng không cấm họ vận động, nhưng luật pháp lại cấm sự vận động của các công nhân. Không có một đạo luật nào chống vận động để hạ lương công nhân, nhưng lại có rất nhiều đạo luật cấm vận động đòi tăng lương. Trong một cuộc tranh chấp về lương bổng, giới chủ có thể cầm cự được lâu dài hơn nhiều. Một địa chủ, một trại chủ, một chủ nhà máy hay một thương gia, không có công nhân vẫn có thể sống một hay hai năm dựa vào tư bản họ đã tích lũy được. Trong khi đó đa số công nhân thất nghiệp không thể nào sống nổi một tuần lễ, rất ít người sống được một tháng và gần như không thể có người sống được một năm. Cuối cùng dù chủ cần công nhân cũng như công nhân cần đến chủ, nhưng sự “cần” của đôi bên không cấp thúc như nhau.

“Xã hội chính trị lớn nào cũng gồm có đại đa số gia công, nông dân, và công nhân mọi giới. Cải thiện cuộc sinh hoạt của đại đa số nhân dân không thể coi là một trở ngại cho sự thịnh vượng của toàn thể xã hội. Không một xã hội nào có thể thịnh vượng và hạnh phúc nếu tầng lớp rộng lớn nhất, phải sống trong cảnh bần cùng khổ ải. Hơn nữa để cho bọn người cung cấp cái ăn, cái mặc, cái ở cho toàn thể xã hội, được hưởng một phần những sản phẩm do chính họ sản xuất ra như được đủ ăn, đủ mặc, đủ ở, chỉ là chuyện công bình mà thôi… Trả công rộng rãi… làm tăng tiến sở đắc của giới lao động. Người ta ai cũng thế, đồng lương cao hạ khuyến khích làm việc nhiều hay ít, hay hay dở… ở những nơi trả lương cao chúng ta thường thấy công nhân hoạt động, cần mẫn, lanh lợi hơn ở những nơi trả lương hạ”.

“Các thương gia, chủ xưởng máy phàn nàn rằng : tăng lương lại phải tăng giá cả và do đó sự tiêu thụ ở trong nước và nước ngoài bị giảm sút. Họ không nói gì cả về việc tiền lời của họ tăng lên. Họ im lặng về những hậu quả ác hại do số lợi tức của chính họ gây ra. Họ chỉ phàn nàn về đồng tiền công của kẻ khác”.

“Trái với một vài trường hợp hoang phí công cộng, sự hoang phí cá nhân không thể làm nghèo những quốc gia lớn. Toàn thể hay là gần như toàn thể lợi tức công cộng ở nhiều nước dùng để nuôi dưỡng những bàn tay không sản xuất. Đó là những người thuộc triều đình đông đảo lộng lẫy, thuộc cơ sở giáo hội, thuộc hải lục quân trong thời bình và cả trong thời chiến nữa. Tất cả lớp người sống vô sản xuất đó đều sống nhờ vào sức lao động của kẻ khác. Đến một năm nào đó lớp người sống vô sản xuất này tăng lên quá con số cần thiết, và họ tiêu thụ quá nhiều làm cho số sản phẩm trong nước còn lại không đủ để nuôi dưỡng những kẻ lao động sản xuất”.

“Kinh nghiệm của mọi thời và mọi nơi chứng tỏ rằng : dùng công nhân nô lệ tuy chỉ tốn có tiền ăn, nhưng xét cho cùng thì lại là loại công nhân đắt nhất, vì công nhân nô lệ không có quyền tư hữu, do đó họ càng ăn nhiều và càng làm ít. Làm công việc gì thì cũng chỉ làm vừa đủ là thôi, nếu họ làm thêm chỉ vì bị cưỡng bách chứ không phải vì ích lợi cho chính họ”.

“và không có tiêu chuẩn nào dựa vào đó khiến ta có thể quyết đoán giữa hai quốc gia cán cân nghiêng về bên nào, hay bên nào xuất cảng được giá hơn… Sự trù phú không phải chỉ bằng tiền, hay bằng quí kim mà bằng những gì tiền có thể mua được, và do đó tiền chỉ có giá trị để mua hàng”.

“Trên thế giới có những quốc gia có đủ điều kiện để sản xuất những thứ hàng đặc biệt, đến nỗi người ta thấy cạnh tranh với những quốc gia đó là điều vô ích. Thí dụ như Scotland với những phương pháp trồng tỉa cầu kỳ [1] có thể sản xuất nho ngon, và với thứ nho này Scotland có thể chế biến rượu ngon nhưng đắt gấp ba mươi lần thứ rượu tương tự nhập cảng của ngoại quốc. Như vậy cấm nhập cảng rượu ngoại quốc để khuyến khích kỹ nghệ rượu ở Scotland có phải là điều hợp lý hay không ?”.

“Bất kỳ người chủ gia đình khôn ngoan nào cũng nghĩ rằng nếu làm lấy mà đắt thì thà mua còn hơn… ở một đại vương quốc cũng vậy. Nếu ngoại quốc có thể cung cấp loại hàng giá rẽ hơn giá hàng mà chúng ta có thể sản xuất, thì chỉ nên mua thứ hàng đó mà chúng ta vẫn có lợi hơn”.

“Ngoại thương có hai điều lợi : một là bán ra được những sản phẩm trong nước tiêu thụ không hết, hai là mua vào được những sản phẩm cần thiết… Với sự phát triển ngoại thương, thị trường trong nước đã nhỏ hẹp, người ta vẫn có thể tiến xa trong sự phân công, và đưa sự sản xuất tới mức hoàn thiện. Mở được những thị trường rộng lớn để tiêu thụ những sản phẩm dư thừa ở trong nước, người ta có thể khuyến khích các ngành công kỹ nghệ tăng cường khả năng sản xuất đến mức tối đa và do đó tăng cường lợi tức và sự trù phú của quốc gia”.

“Một người không sử dụng thỏa đáng những khả năng trí óc của mình có thể nói là một người đáng khinh hơn ngay cả một người hèn nhát, họ hình như bị tàn tật, bị méo mó về nhân tính. Giáo dục quần chúng có thể không có lợi gì cho nhà nước, nhưng dù sao, nhà nước cũng không thể để cho quần chúng chịu cảnh thất học và xét cho cùng, thì giáo dục quần chúng không phải là không đem lại lợi ích cho nhà nước. Càng được học hỏi, quần chúng càng khỏi bị lừa bịp, càng bớt dị đoan mê tín mà ở những quốc gia dốt nát thường thường vì những tệ đoan ấy mà bị những rối loạn khủng khiếp. Lớp quần chúng thông minh và có học thức bao giờ cũng lịch sự, nhã nhặn, và có trật tự hơn là lớp quần chúng vô học, dốt nát. Mỗi cá nhân đều biết tự trọng hơn, và có thể được những người trên coi trọng và ngược lại sẽ trọng người trên hơn… Ở những quốc gia tự do, sự bền vững của chính phủ tùy thuộc phần lớn ở sự phán xét quần chúng, vì lẽ đó nên việc quan trọng hơn hết là quần chúng cần phải được giáo dục để họ đừng phán xét chính phủ một cách bừa bãi hay thất thường”.

( trích từ Quốc phú luận)


Responses

  1. Tin gia qua sao!


Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Danh mục

%d bloggers like this: